Trang

Tìm kiếm

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Physical Address Extension-Tận dụng tối đa dung lượng RAM trên bộ vi xử lý 32bit

Physical Address Extension (PAE) là tính năng xử lý cho phép bộ vi xử lý x86 có thể truy cập vào bộ nhớ vật lý nhiều hơn 4GB trên các phiên bản có hỗ trợ của Windows. Một số phiên bản Windows Server 32-bit có thể sử dụng PAE để truy cập lên đến 64GB hoặc 128GB RAM tùy thuộc vào kích thướt địa chỉ vật lý của bộ vi xử lý.

Các hệ điều hành có hỗ trợ PAE :
alt
 Tuy nhiên không phải khi kích hoạt PAE thì hệ điều hành của bạn có thể nhận tối đa bộ nhớ gắn vào máy tính, tùy vào hệ điều hành windows mà hệ thống có thể truy cập vào bộ nhớ vật lý.
Giới hạn bộ nhớ vật lý : Windows 7
Phiên bản
Giới hạn của Windows 32-bit
Giới hạn của Windows 64-bit
Windows 7 Ultimate
4 GB
192 GB
Windows 7 Enterprise
4 GB
192 GB
Windows 7 Professional
4 GB
192 GB
Windows 7 Home Premium
4 GB
16 GB
Windows 7 Home Basic
4 GB
8 GB
Windows 7 Starter
2 GB
2 GB
 Giới hạn bộ nhớ vật : Windows Server 2008 R2
Phiên bản
Giới hạn của Windows 64-bit
Windows Server 2008 R2 DataCenter
2 TB
Windows Server 2008 R2 Enterprise
2 TB
Windows Server 2008 R2 for Itanium-Base Systems
2 TB
Windows Server 2008 R2 Foundation
8 GB
Windows Server 2008 R2 Standard
32 GB
Windows HPC Server 2008 R2
128 GB
Windows Web Server 2008 R2
32 GB
     Thông tin chi tiết các hệ điều hành hỗ trợ : http://msdn.microsoft.com/en-us/library/aa366778%28VS.85%29.aspx
    Kích hoạt Physical Address Extension (PAE):
        1.Đối với Windows XP hoặc Windows Server 2003 ta thêm vào file Boot.ini : /PAE 





  2. Đối với Windows 7 hoặc Windows Server 2008 ta dùng BCDEdit /set
Trong bài lab này tôi thực hiện trên máy chủ cài đặt Windows Server 2008 Enterprise 32-bit, bộ nhớ 8GB.





 Kiểm tra hoạt động bộ nhớ trong Task Manager chỉ nhận 3,3GB.

Kích hoạt PAE
Chọn Start, chọn Run nhập vào cmd. Chọn OK.

 KKiểm tra Windows Boot Looder
Nhập vào BCDEdit /v


 PPhần Windows Boot Looder, Copy dòng identifier.


 NNhập vào BCDEdit /set {ID} PAE ForceEnable



B Bật PAE thành công.



  Khởi động lại máy tính, sau đó kiểm tra.



Cấu hình Webmail Mdaemon chạy trên IIS qua cổng 80

Việc cài đặt, cấu hình IIS, Helm và Mdaemon trên server 2003 là chuyện quá đơn giản nếu như để Mdaemon, Helm chạy với cổng mặc định (Helm chạy cổng 8086, Mdaemon worldclient chạy cổng 3000).

Tuy nhiên, việc chạy cổng sẽ là bất tiện cho khách hàng nếu khách hàng là thành phần doanh nghiệp. Họ sẽ khó để mà nhớ được cái cổng cần để mà chạy là gì. Do đó, nhu cầu config lại Helm cũng như Mdaemon là rất quan trọng, config lại để 2 dịch vụ email và control panel hosting chạy chung cổng 80 với website.

Lưu ý, điều này chỉ thực hiện được nếu bạn có ít nhất 2 IP. Và thực tế là chỉ 2 IP bạn mới phải config chứ nếu nó có 3 IP thì cứ thế cho Mail một IP, Helm một IP và website 1 IP là ok. Nếu bạn có 1 IP duy nhất thì chỉ có thể chạy đc với cổng mà thôi (nếu bạn nào biết cách config để chạy web, webmail, control hosting trên cùng cổng 80 với IIS và với 1 IP duy nhất làm ơn post tut hướng dẫn nhé)

Bài hướng dẫn này trên IIS6, Windows server 2003 Enter, Helm 3, Mdaemon 9.5.6. Bạn có 2 IP là 202.151.161.38 và 202.151.161.238. Tôi hướng dẫn config để chạy webmail trên 202.151.161.38 và Helm trên 202.151.165.238

Các bước config:
1. Khởi động IIS lên.
2. Nhấn chuột phải Application Pools.
3. Chọn New/Application Pool.
  4. Đặt tên là bất kỳ, ở đây tôi đặt WorldClient và nhấn OK.
  5. Nhấn chuột phài và WorldClient.
   6. Chọn Properties.
  7. Chuyển qua thẻ Performance.
  8. Bỏ dấu kiểm ở 2 phần Shutdown worker processes after being idle for (time in minutes)Limit the kernel request queue (number of requests).
  9. Kế tiếp, chuyển qua thẻ Identity.
 10. Trong hộp thoại đổ xuống Predefined, chọn Local System.

11. Nhấn OK. Chọn Yes nếu có cửa sổ hiện ra

12. Chuột phải lên Web Sites.

 14. Click lên Web Site
 15. Nhấn nút Next.


16. Đặt tên tùy ý, miễn sao cho dễ nhớ là được, ở đây tôi đặt là WorldClient.

 17. Nhấn nút Next.
 18. Tại phần tiếp theo, nếu bạn chỉ chạy một domain thì nhập vào địa chỉ mà bạn muốn dùng để mở Webmail. Ví dụ bạn có domain là hrockvn.net, muốn check webmail qua địa chỉ mail.hrockvn.net thì bạn nhập vào là mail.hrockvn.net. Nếu bạn là hosting provider, dĩ nhiên bạn phải chạy nhiều domain ---> hãy để trống phần Header này. Phần địa chỉ IP bạn chọn IP mà muốn dùng để làm webmail. Ở đây tôi dùng 202.151.161.38. Bấm Next

 19. Tại phần Home Directory, nhấn nút Browse rồi trỏ đến nơi chứa dữ liệu email, mặc định là C:\MDaemon\WorldClient\HTML.
 20. Nhấn nút Next.
 21. Chọn vào 3 dấu kiểm Read, Run Scripts và Execute.

22. Nhấn nút Next.
 23. Kết thúc Finish.
 24. Nhấn chuột phải lên web vừa tạo (ở đây tên WorldClient).
 25. Chọn Properties.
 26. Chọn thẻ Documents.
 27. Xóa tất cả danh sách đó.
 28. Thêm WorldClient.dll.
29. Chuyển sang thẻ Home Directory.
 30. Chọn WorldClient trong phần danh sách đổ Application Pool.
  31. Nhấn OK.

 32. Chọn vào Web Service Extensions. Chọn Add a new Web service extension.
  33. Phần Extension Name bạn nhập cái gì cũng đc. Ở đây tôi chọn dll. Phần Required files bạn bấm nút  Add để browser đến file WorldClient.dll trong folder HTML. Sau đó tick vào Set extention status to Allowed. Bấm ok
 Đó là những cách thiết lập trên IIS, nhưng cần phải thêm 1 bước nữa là phân quyền cho thư mục chứa MDaemon với quyền hạn NTFS là Full Control cho tài khoản The Internet Guest Account - IUSER_<SERVER_NAME>. Cái này thì không cần phải nói rồi.

Bước kế, ta cấu hình trực tiếp trong MDaemon:

  1. Mở giao diện chính của chương trình MDaemon lên
  2. Từ danh mục, chọn Setup
  3. Chọn WorldClient (web mail)
  4. Chọn ngay phần WorldClient runs using external webserver (IIS, Apache, etc)
  5. Nhấn Apply
  6. Nhấn Restart WorldClient
  7. Rồi OK

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Chỉ một lần thôi, anh muốn nói yêu em (Phần 1)






Anh 27 tuổi, có một đôi mắt
lạnh lùng và một gương mặt phớt đời cũng giống như tính cách của anh, là một con người ngang tàng kiểu nghệ sĩ. Không làm một việc gì cố định nhưng chẳng bao giờ thất nghiệp và cũng chẳng bao giờ thiếu tiền. Không bao giờ tỏ ra để ý tới các cô gái nhưng lại đối xử rất ga-lăng đối với bất cứ người con gái nào ngay bên cạnh… Ở anh hội tụ tất cả những điểm xấu xa của một gã Người trong cuộc đời nhưng lại có tất cả những điểm đẹp đẽ nhất của một chàng trai trong tim các cô gái. Vì vậy không khó để người ta nhìn thấy anh với hàng tá phụ nữ “theo đuổi” – sự thật anh chẳng bao giờ cố gắng để tán tỉnh một cô gái nào, cái phớt đời lạnh lùng của anh đã khiến những cô nàng hiền dịu cũng có mà hiếu thắng thì lại càng nhiều, ràn rạt nối gót theo anh. “Hiền dịu” thì muốn ở cạnh anh để dựa vào sự che chở của anh bởi anh là kẻ có khả năng sẵn sàng bảo vệ phái đẹp bất cứ lúc nào và “hiếu thắng” thì lại càng muốn có anh để chinh phục cái bản tính lạnh lùng cố hữu của anh. 

Thế nhưng anh là một con người rất khó để mà hiểu một cách cặn kẽ. Có cái gì rất khó nói khi gặp anh. Một con người chứa đầy sự mâu thuẫn cả về nội dung lẫn hình thức. Một con người không bao giờ cố gắng để thu hút phụ nữ nhưng lại có rất nhiều phụ nữ cố gắng để thu hút cái nhìn của anh. Một con người không yêu bất cứ một cô gái nào trong số những người “quấn quít” bên anh nhưng cũng chưa bao giờ từ chối một ai trong số đó. Anh khiến cho họ vui lòng khi đưa họ đi chơi, cùng gặp gỡ hết thảy bạn bè của anh, chở họ đi lòng vòng khắp thành phố, ngắm hoàng hôn ở một nơi đẹp đẽ nào đó, ân cần, dịu dàng và chiều chuộng hết sức chu đáo…nghĩa là những hành động của anh không khác gì hành động của những cặp tình nhân lãng mạn. Nhưng anh cũng khiến họ băn khoăn quá đỗi vì chẳng bao giờ anh nắm tay hay gần gũi theo cách mà những người yêu nhau nên có, chẳng bao giờ họ được nghe thấy tiếng yêu được phát ra từ môi của anh… Chỉ ít lâu sau, nhiều nhất cũng chỉ 3 tháng sau, những cô gái đã từng hạnh phúc khi được đứng bên anh cũng sẽ dần dần rời xa anh, bởi họ hiểu rằng, dù có cố gắng, họ cũng chẳng bao giờ chiếm được trái tim của anh. Tiếng yêu ấy cũng không bao giờ dành cho họ. Họ ra đi những cũng chưa một ai có thể trả lời được câu hỏi vì sao luôn thường trực trong suy nghĩ của họ. Chỉ một mình anh biết. Chỉ một mình anh hiểu. Rằng tình yêu của anh duy nhất chỉ có một, đã trao cho duy nhất một người… nên anh không thể nào trao cho một ai khác ngoài người con gái ấy. Người ấy, chưa một lần anh dám nói tiếng yêu… 10 năm, một con số tròn trĩnh, là quãng thời gian trải dài suốt tình yêu của anh. Một quãng thời gian quá dài cho một tình yêu thầm lặng, một tình yêu mà anh luôn giấu kín trong tim, tình yêu chỉ từ phía anh. Ít nhất đối với anh là như vậy. Anh luôn mạnh mẽ trong mắt mọi người nhưng sao đối diện với người con gái
đó, tâm hồn anh bỗng trở nên mềm yếu. Tròn trịa 10 năm, anh vẫn gặp cô hằng ngày, vẫn đi bên cạnh cuộc đời cô, dõi theo cô nhưng trái tim của hai người vẫn hướng về hai phía khác nhau. 10 năm, anh gìn giữ tình yêu của mình nguyên vẹn, trong sáng như thủa ban đầu anh mới quen cô. Mặc dù quãng thời gian quá dài ấy đã khiến con tim anh có nhiều tì vết, tiếng yêu một lần không thể nói ra, càng về sau lại càng không đủ can đảm. Với anh, không phải chỉ một lần anh đứng đối diện với cô, không phải chỉ một lần anh có cơ hội để tỏ cho cô thấy tình yêu của mình. Đã bao nhiêu lần cơ hội đó vụt mất khỏi tay anh. Rồi anh tự nhủ mình, thôi thì cái gì đến sẽ đến… Một, hai lần anh dễ dãi buông xuôi, ngoảnh đi ngoảnh lại cũng đã 10 năm dài đằng đẵng. Thời gian quá đủ để làm chín tình yêu, quá đủ để tình yêu đơm hoa kết trái, nếu như chỉ một lần thôi anh đủ can đảm để nói với cô rằng “anh yêu em”. Vậy mà anh đã không thể. Bao nhiêu lần cơ hội đến với anh thì cũng là bấy nhiêu lần anh lựa chọn giải pháp giữ kín tình yêu cho riêng mình. Anh nâng niu nó như một viên pha lê mỏng mảnh mà anh sợ chỉ một cơn gió thôi cũng đủ để làm nó vỡ tan. Anh cất giữ tình yêu của mình như một vật báu, thi thoảng mới hé ra để nhìn ngắm, vuốt ve và an ủi nó. 
  Chẳng phải ai cũng bảo rằng yêu đơn phương khổ lắm hay sao? Nhưng anh vẫn chọn con đường đó. Anh vốn là một con người khó hiểu. Cũng là yêu nhưng lại chẳng được may mắn như người ta, được quấn quít bên nhau, được chia sẻ với nhau, được gần gũi, được quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và cũng chẳng bao giờ được nói với nhau những lời yêu thương. 10 năm trọn vẹn một tình yêu với cô là 10 năm anh dằng dặc những day dứt, trăn trở, dằng dặc những nỗi buồn, dằng dặc những cô đơn anh không biết chia sẻ cùng ai. Cảm giác của anh cũng giống với cảm giác của người đang giấu giếm một điều gì đó trong lòng. Cảm giác ấy khó chịu lắm. Cứ như mình là mắc lỗi mà không được tha thứ phải luôn tìm cách trốn tránh, dò xét thái độ của người ta. Thỉnh thoảng lại cứ phải giật mình bởi những chuyện đâu đâu lại na ná giống của mình. Thế mà anh lại phải giấu đi
một điều thật quan trọng. Có một ai đó đã từng nói ( câu nói này, khi yêu ai cũng muốn nói!) , rằng khi anh yêu em anh muốn cả thế giới biết được điều đó. Cũng phải, tình yêu là gì? Là niềm vui, là hạnh phúc, là nhớ nhung, là đau khổ?…Đơn giản tình yêu là sẻ chia, là muốn được sẻ chia với tất cả…Còn anh? Anh không thể hét to với cả thế giới rằng anh yêu cô bởi thậm chí với cô anh cũng chẳng thể nói được điều đó. Hạnh phúc là được yêu cô, nhưng đau đớn là người ta chẳng thể biết rằng mình đã yêu người ta. Anh tạo ra cho mình một con đường riêng lẻ, song song với cô để chẳng bao giờ cô và anh giao nhau tại một điểm. Chính anh tự tạo cho mình con đường đó nên cũng chính anh phải tìm cho mình những niềm vui nho nhỏ, những hạnh phúc cỏn con. Là niềm hạnh phúc khi mỗi ngày đi qua, tình yêu của anh lại lớn dần lên, đẹp đẽ và trong trẻo vô ngần. Là niềm vui, khi mỗi lần gặp gỡ, dù chẳng ai nói được với nhau một câu trọn vẹn nhưng được nghe giọng nói của cô, được nhìn thấy nụ cười tươi tắn trên môi cô. Đó là tình yêu đã ngập tràn trong trái tim vốn rất nhạy cảm của anh khi đứng trước cô. Cũng sẽ là niềm hạnh phúc vô bờ khi cô tin tưởng nhờ cậy anh giúp đôi ba công việc và là niềm sung sướng tột độ khi anh làm được những công việc ấy một cách trọn vẹn ( bao giờ anh cũng trọn vẹn đối với cô) để được nhìn thấy nụ cười cảm ơn xuýt xoa trên đôi môi cô. Hằng ngày anh cũng cố gắng đi qua trên những con đường mà cô thường đi, để được thấy cô đi làm mỗi buổi sớm và trở về khi tan sở. Dù có thể gặp nhau một cách chính đáng nhưng anh vẫn thích nhìn cô từ xa với cái nhìn âu yếm mà trước mặt cô anh không thể… 
 
Tất cả chỉ là những niềm vui nhỏ nhoi mà thôi, bởi so với niềm vui và hạnh phúc mà anh cố tìm kiếm cho mình ấy là cả một quãng thời gian dài anh đã yêu bằng một trái tim lẻ loi và đơn độc. So với niềm vui và hạnh phúc, nỗi cô đơn, dằn vặt, trăn trở và đau đớn còn da diết hơn nhiều.


Bài tập bất đẳng thức

  



Học thuyết Lamarck và học thuyết Darwin


I/  Học thuyết Lamarck

Lamarck cho rằng loài sinh vật có thể biến đổi dưới tác động của môi trường chứ không phải bất biến. Cơ chế tiến hóa làm cho loài này biến đổi thành loài khác được giải thích như sau:

-          Nguyên nhân: Sự thay đổi một cách chậm chạp và liên tục của môi trường sống.

-          Cơ chế chính: Mổi sinh vật đều chủ động thay đổi tập quán hoạt động của các cơ quan để thích ứng với sự thay đổi của môi trường. Cơ quan hoạt động nhiều thì sẽ liên tục phát triển, cơ quan ít hoặc không hoạt động sẽ dần tiêu biến.

-          Đặc điểm: Những đặc điểm thích nghi được hình thành luôn được di truyền cho thế hệ sau.

Ví dụ: Sự hình thành loài hưu cao cổ . Loài hưu cổ ngắn dần dần thay đổi đặc điển cổ ngắn thành cổ dài để thích nghi với việc phải vươn cổ lên cao để kiếm thức ăn.

Chú ý: Những hạn chế( sai lầm) trong học thuyết Lamarck là:

-          Những biến đổi của cơ thể dưới tác động của môi trường đều được di truyền.

-          Do ngoại cảnh thay đổi chậm chạp nên sinh vật có khả năng thích nghi kịp thời và trong lịch sử không có loài nào bị đào thải.

-          Mọi cá thể đều đồng loạt phản ứng theo cách giống nhau trước điều kiện ngoại cảnh mới.

II/ Học thuyết Darwin

Sự quan sát của Darwin trong quá trình hình thành học thuyết tiến hóa:

-          Tất cả các loài sinh vật đều có xu hướng sinh ra số lượng con nhiều hơn nhiều so với số con có thể sống sót đến tuổi sinh sản.

-          Quần thể sinh vật có xu hướng duy trì kích thước không đổi trừ khi có biến đổi bất thường về môi trường.

-          Các cá thể con khác bố mẹ và khác nhau về nhiều cho tiết( biến dị cá thể).

Học thuyết Darwin:

-          Sự đấu tranh sinh tồn: Các cá thể phải đấu tranh với nhau để giành quyền sinh tồn, chỉ số ít cá thể còn sống sót qua mỗi thế hệ.
-          Chọn lọc tự nhiên: các cá thể có khả năng sống sót và khả năng sinh sản cao sẽ để lại nhiều con cho quần thể. Theo thời gian, số lượng có các biến dị thích nghi ngày một tăng và số lượng các cá thể có các biến dị kém thích nghi ngày một giảm.

Kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên:

-          Đào thải những biến dị không có lợi , tích lũy những biến dị có lợi cho bản thân sinh vật.
-          Hình thành các đặc điểm thích nghi trên cơ thể sinh vật.

-          Phân li tính trạng theo nhiều hướng, tạo ra các dạng khác với tổ tiên ban đầu.

Quá trình chọn lọc nhân tạo:

-          Quá trình tiến hành trên vật nuôi và cây trồng theo nhu cầu thị hiếu, kinh tế của con người.
-          Cơ sở: Dựa trên tính biến dị và di truyền.
-          Kết quả: hình thành nhiều dạng khác với tổ tiên, tạo ra sự đa dạng sinh học ở vật nuôi và cây trồng; quy địng chiều hướng tiến hóa của cây trồng, vật nuôi.

Kết luận của Darwin:

-          Thông qua thuyết tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên( Natural Selection) , ông cho rằng các loài trên trái đất đều được tiến hóa từ một tổ tiên chung.
-          Thế nhưng thế giới sinh vật rất đa dạng do mỗi loài đều có những đặc điểm thích nghi riêng biệt qua hàng triệu năm tiến hóa.



Câu hỏi trắc nghiệm:
1/ Điểm chưa đúng trong quan niệm của Lamac là:
Chọn một đáp án dưới đây

A. Mọi biến đổi trên cơ thể đều di truyền
B. Mọi sinh vật đều phản ứng giống nhau trước tác động môi trường
C. Ở mọi sinh vật không có loài bị đào thải do kém thích nghi
D. Cả ba câu A, B, C

2/ Theo Lamac hướng tiến hoá cơ bản của sinh vật là:
Chọn một đáp án dưới đây

A. Thích nghi ngày càng hoàn thiện
B. Chủng loại ngày càng phong phú, đa dạng
C. Nâng dần tổ chức cơ thể từ đơn giản đến phức tạp
D. Cả A, B, C đều đúng
3/ Theo quan điểm của Lamac, tiến hoá không đơn thuần là sự biến đổi mà còn là sự ………. có tính kế thừa lịch sử.
Từ điền đúng vào chỗ trống của câu hỏi trên là:
Chọn một đáp án dưới đây

A. Phân hoá
B. Phát triển
C. Liên tục
D. Di truyền

4/ Theo quan điểm của di truyền học hiện đại thì loại biến dị xác định mà Đacuyn đã nêu ra trước đây gọi là:
Chọn một đáp án dưới đây

A. Thường biến
B. Đột biến của cấu trúc nhiễm sắc thể
C. Đột biến số lượng nhiễm sắc thể
D. Đột biến gen
5/  Đóng góp quan trọng nhất của học thuyết Lamarck:
  1. Giải thích được sự đa dạng của sinh giới bằng thuyết biến hình.
  2. Lần đầu tiên giải thích được sự tiến hóa của sinh giới một cách hợp lí thông qua vai trò của chọn lọc tự nhiên và biến dị.
  3. Chứng minh sinh giới là kết quả của một quá trình phát triển liên tục từ đơn giản đến phức tạp.
  4. Bác bỏ vai trò của thượng đế trong việc sáng tạo ra các loài sinh vật.
6/  Theo Darwin chọn lọc nhân tạo bắt đầu từ khi nào?
  1. Từ khi sự sống xuất hiện.
  2. Từ khi loài người xuất hiện.
  3. Từ khi loài người bắt đầu biết trồng trọt, chăn nuôi.
  4. Từ khi khoa học chọn giống được hình thành.

7/ Động lực của chọn lọc tự nhiên là:
  1. Đấu tranh sinh tồn trong cơ thể sống.
  2. Các tác nhân của điều kiện sống trong tự nhiên.
  3. Sự đào thải các biến dị không có lợi.
  4. Sự tích lũy các biến dị có lợi.

8/ Theo Darwin, đối tượng tác động của chọn lọc tự nhiên là:
  1. Cá thể.
  2. Quần thể.
  3. Quần xã.
  4. Hệ sinh thái.

9/ Trong việc giải thích nguồn gốc chung của loài, quá trình nào dưới đây đóng vai trò quyết định:
  1. Đột biến
  2. Giao phối
  3. Chọn lọc tự nhiên.
  4. Phân ly tính trạng.

10/  Theo Darwin nhân tố chính trong quá trình hình thành đặc điểm thích nghi ở cơ thể sinh vật:
  1. Biến dị cá thể và quá trình giao phối.
  2. Đột biến, giao phối, chọn lọc tự nhiên.
  3. Phân ly tính trạng và đồng quy tính trạng.
  4. Chọn lọc tự nhiên tác động thông qua di truyền và biến dị.



/